Tịch tà và thiên lộc: đôi thú đá có cánh thời Đông Hán, tổ tiên xa của tỳ hưu đeo tay
Con tỳ hưu nhỏ trên chiếc vòng bạn đeo có họ hàng xa là những con thú đá có cánh đứng trước mộ quan lại thời Đông Hán. Bài kể lại gốc gác đó.
Con tỳ hưu nhỏ trên chiếc vòng bạn đeo có họ hàng xa là những con thú đá có cánh đứng trước mộ quan lại thời Đông Hán. Bài kể lại gốc gác đó.
Một sừng là đực, hai sừng là cái, hay ngược lại? Bài lần lại gốc của quy ước này, chỉ ra phần nào có nguồn, phần nào là cách gọi của người bán hiện nay.
Những con thú đá có cánh dài vài mét ở Nam Kinh, Đan Dương là đỉnh của dòng tịch tà. Bài giải thích cách phân loại theo đẳng cấp và chỗ còn tranh luận.
Từ khối đá trước lăng tới con thú ngọc nằm gọn trong lòng bàn tay, hình tượng tỳ hưu thu nhỏ dần qua nhiều thế kỷ. Bài theo dấu quãng đường đó qua từng thời.
Nghê ngồi canh đình làng, tỳ hưu nằm trên vòng tay. Hai linh vật hay bị gọi lẫn. Bài chỉ ra những chỗ nhìn là phân biệt được, kể cả trên đồ đeo nhỏ.
Móng vuốt hay móng guốc, sừng ngả sau hay sừng thịt, lưng trơn hay đội vật trên lưng: ba câu hỏi đủ để tách tỳ hưu khỏi kỳ lân và long mã trên đồ đeo.
Nhiều nơi giới thiệu tỳ hưu là con thứ chín của rồng. Các danh sách "rồng sinh chín con" chép từ thời Minh lại không có tên nó. Bài đối chiếu từng bản.
Trong đình làng không có tỳ hưu, nhưng trên cổ tay người Việt thì có rất nhiều. Bài lần lại cách hình tượng này đi vào đời sống Việt trong vài chục năm gần đây.
Cùng là tỳ hưu nhưng có con dữ dằn thân dài, có con nằm ngoảnh đầu, có con tròn mập ngậm tiền. Bài giúp bạn nhận ra mẫu đang cầm thuộc dòng thẩm mỹ nào.
Tịch tà thời Hán không ngậm tiền, không cưỡi thỏi vàng. Bài lần lại từng biểu tượng hay đi kèm tỳ hưu đeo tay: đồng tiền lỗ vuông, nguyên bảo, hạt châu, mây lửa