Tỳ hưu pha lê, thuỷ tinh và lưu ly: gọi đúng tên món đeo không phải đá
Pha lê K9, thuỷ tinh chì, lưu ly, kim sa, opalite đều là thuỷ tinh. Bài phân biệt chúng với thạch anh trên con tỳ hưu và nói rõ độ bền khi đeo.
Tỳ hưu chạm ngọc phỉ thuý, nephrite, thạch anh, obsidian, mã não, mắt hổ…; đá chạm nguyên khối và đá ép bột; nhuộm, phủ nhựa; lỗ xỏ khoan thẳng hay lệch, mẻ ở sừng và đuôi; vòng hạt đá chặn tỳ hưu: tỷ lệ hạt – tỳ hưu, dây chun; giấy giám định ghi gì cho món chạm.
Pha lê K9, thuỷ tinh chì, lưu ly, kim sa, opalite đều là thuỷ tinh. Bài phân biệt chúng với thạch anh trên con tỳ hưu và nói rõ độ bền khi đeo.
Cùng một mẫu tỳ hưu, thạch anh trong làm nét chạm khó đọc, mã não giữ nét mảnh, mắt hổ phụ thuộc chiều sợi. Bài giúp bạn chọn đá theo vẻ ngoài và cách đeo.
Lỗ xỏ là chỗ yếu nhất của con tỳ hưu đá. Bài chỉ cách soi lỗ khoan thẳng hay lệch, mép lỗ mẻ, chọn dây hợp cỡ lỗ và xâu lại vòng mà không làm nứt đá.
Một vòng chặn tỳ hưu đẹp cần hạt và con tỳ hưu cân tỷ lệ, độ cứng gần nhau, hạt chặn đúng chỗ. Bài hướng dẫn phối hạt và đọc chất lượng vòng trước khi mua.
Sừng, tai, đuôi và mép lỗ là chỗ tỳ hưu đá hay mẻ. Bài chỉ cách phân biệt nứt với vân, nhận ra chỗ trám keo, và các cách xử lý khi món đã sứt.
Giấy giám định cho món tỳ hưu chạm xác nhận vật liệu và xử lý, không xác nhận tay nghề hay giá. Bài chỉ cách đọc từng dòng và khớp giấy với đúng món.
Chữ "ngọc" trên con tỳ hưu có thể là phỉ thuý, nephrite, serpentine hay thạch anh nhuộm. Bài so độ cứng, ánh, nét chạm và cách hỏi người bán cho rõ.
Đá ép là bột đá trộn keo rồi đúc khuôn. Bài chỉ cách nhìn vân, kẽ chạm, mặt gãy và cảm giác tay để biết con tỳ hưu được chạm từ đá liền hay đúc từ bột.
Trên món chạm, màu nhuộm thường dồn vào kẽ và quanh lỗ xỏ, lớp nhựa phủ cho ánh mềm. Bài chỉ cách soi, cách hỏi và độ bền của tỳ hưu đá đã xử lý.
Obsidian và thuỷ tinh đen đều là thuỷ tinh. Bài chỉ cách đọc đường ráp khuôn, kẽ chạm, bọt khí và ánh sáng bên trong một con tỳ hưu obsidian.
Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.