Qua các thời Đường, Tống, Minh, Thanh, hình tượng thú có cánh mà ngày nay gọi chung là tỳ hưu dần rời thần đạo lăng mộ để trở thành vật chạm nhỏ trong nhà: tượng ngọc cầm tay, chặn giấy, núm ấn, đồ trang trí án thư, rồi tới thời rất gần đây mới thành hạt vòng, mặt nhẫn. Kích thước thu nhỏ kéo theo dáng thay đổi: từ con thú đang bước dữ dằn sang con thú nằm phục, thân tròn, đầu quay lại, vừa vặn trong lòng bàn tay.
Bài này theo dấu quãng đường đó. Mốc năm chỉ ghi khi chắc; những chỗ giới nghiên cứu còn bàn, bài ghi "khoảng" hoặc "nhiều tài liệu cho rằng". Mục đích là giúp bạn hiểu vì sao con tỳ hưu trên chiếc vòng của mình lại có dáng như vậy, và nhận ra một số kiểu dáng là kế thừa chứ không phải tình cờ.
Thời Đường: thú có cánh nhường chỗ
Thời Đường (618–907) là thời của những thần đạo lăng mộ hoành tráng ở vùng Thiểm Tây. Trên thần đạo lăng Đường, người xem gặp ngựa có cánh, sư tử, tượng quan văn võ, tượng sứ thần các nước. Thú có cánh không biến mất, nhưng con được chọn để mang cánh là con ngựa, không phải con thú dáng mèo lớn của Hán và Nam triều.
Trong khi đó, ở mỹ thuật cỡ nhỏ, thời Đường để lại nhiều tượng gốm men tam thái hình thú trấn mộ đặt trong lòng mộ: đầu thú, có khi đầu người, mọc sừng, cánh lửa, dáng ngồi. Chúng là họ hàng xa của tịch tà nhưng mang một ngôn ngữ tạo hình khác, mềm, rực màu.
Với người tìm hiểu tỳ hưu, thời Đường là giai đoạn chuyển tiếp. Ý niệm thú canh giữ vẫn còn, nhưng hình dạng phân tán vào nhiều loài khác nhau. Không có một con "tỳ hưu thời Đường" chuẩn mà bạn có thể chỉ ra; ai giới thiệu một mẫu đồ đeo là "tỳ hưu Đường" thì nên hỏi họ dựa vào hiện vật nào.
Thời Tống: tượng giác đoan và đồ ngọc nhỏ
Các lăng hoàng đế Bắc Tống ở vùng Củng Nghĩa (Hà Nam) có thần đạo với nhiều loại tượng, trong đó có con thú một sừng gọi là giác đoan, cùng sư tử, voi, ngựa, chim. Giác đoan trong truyền thuyết là con thú biết nói nhiều thứ tiếng, xuất hiện khi có minh quân. Hình dáng của nó gần với nhóm thú một sừng hơn là tịch tà.
Song song, nghề chạm ngọc thời Tống phát triển các tượng thú nhỏ, có thể cầm tay hoặc đặt trên bàn viết. Những con thú ngọc này thường nằm phục, thân rút ngắn, đầu quay ngang. Đây là giai đoạn mà dáng nằm phục, về sau thành dáng phổ biến nhất của tỳ hưu, bắt đầu rõ nét hơn trên đồ chạm nhỏ.
Cần thận trọng với việc xác định niên đại tượng ngọc thú nhỏ. Rất nhiều tượng ngọc được thời sau làm theo dáng thời trước, và nghề làm giả cổ có lịch sử lâu đời. Ngay giới chuyên môn cũng có khi tranh luận một con thú ngọc là đồ Tống hay đồ Minh phỏng Tống. Người mua đồ đeo không cần đi sâu tới mức đó, nhưng nên biết để không tin ngay lời "đồ Tống".
Thời Minh – Thanh: tỳ hưu thành vật trong thư phòng
Tượng ngọc cầm tay. Thời Minh và nhất là thời Thanh, tượng thú ngọc kích thước lòng bàn tay rất phổ biến trong giới có học và nhà giàu. Người ta cầm, xoa, ngắm như một thú chơi, đặt trên giá gỗ ở án thư. Dáng thường là nằm phục, đầu ngoảnh lại, mà sách mỹ thuật gọi là dáng hồi thủ.
Chặn giấy. Thư phòng cần vật nặng để giữ giấy khi viết chữ, vẽ tranh. Chặn giấy hình thú bằng đồng, ngọc, đá rất được ưa, và con thú nằm phục có đế phẳng là lựa chọn tự nhiên. Đây là một nguồn quan trọng đưa dáng tỳ hưu nằm vào đời sống hằng ngày.
Núm ấn. Ấn đá, ấn đồng thường có núm tạc hình thú để cầm. Các núm hình thú nằm, có sừng, đuôi xoắn khá phổ biến trên ấn riêng của người có học. Thợ chạm núm ấn phải làm thú nhỏ mà vẫn đủ chi tiết, một kỹ năng gần với chạm tỳ hưu đeo tay ngày nay.
Đồ trang trí kim loại. Lư hương, chân đế, tay nắm đồ đồng thời này cũng có hình thú dáng tịch tà. Tuy nhiên, những vật đó là trang trí, không phải đồ đeo trên người.
Còn đồ đeo thì sao? Mặt dây chuyền, đồ đeo thắt lưng bằng ngọc chạm thú nhỏ có tồn tại, nhưng tỳ hưu chưa phải là đề tài đồ đeo phổ biến nhất so với các đề tài như rồng, phượng, hoa lá, con dơi. Mốt đeo tỳ hưu thành phong trào rộng là chuyện của thời hiện đại.
Bảng tóm tắt quãng đường thu nhỏ
Bảng dưới nêu khái quát; mỗi thời có rất nhiều biến thể và hiện vật cụ thể có thể khác.
| Thời | Nơi xuất hiện chính | Kích thước | Dáng tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Đông Hán | Thần đạo mộ quan lại, quý tộc | Một tới hơn hai mét | Đang bước, cánh ép sườn |
| Nam triều | Lăng vua, mộ vương hầu | Trên dưới ba mét | Thân chữ S, ngực ưỡn, thè lưỡi |
| Đường | Thần đạo có ngựa cánh; thú trấn mộ gốm trong lòng mộ | Đa dạng | Phân tán vào nhiều loài |
| Tống | Đồ ngọc nhỏ, thú một sừng trên thần đạo | Từ lòng bàn tay tới lớn | Bắt đầu rõ dáng nằm phục |
| Minh – Thanh | Thư phòng: tượng ngọc, chặn giấy, núm ấn | Lòng bàn tay | Nằm phục, đầu ngoảnh, thân tròn |
| Hiện đại | Nhẫn, vòng, mặt dây | Vài milimét tới vài centimét | Nằm phục, đầu to, thường ngậm tiền |
Đọc từ trên xuống, bạn sẽ thấy dáng nằm phục của tỳ hưu đeo tay không phải tuỳ tiện: nó là kết quả của nhiều thế kỷ thu nhỏ để vừa với bàn viết, bàn tay, rồi cổ tay.
Vì sao hình tượng thu nhỏ dần: ba lực đẩy
Tục táng thay đổi. Mỗi triều chọn bộ tượng thần đạo của mình. Khi các triều sau ưa sư tử, ngựa, voi, kỳ lân, quan hầu, thì chỗ cho tịch tà cỡ lớn trên thần đạo hẹp dần. Hình tượng không mất, nó chỉ tìm chỗ sống khác.
Văn hoá thư phòng nở rộ. Từ khoảng thời Tống trở đi, giới có học dành nhiều tâm sức cho án thư: nghiên, bút, giá bút, chặn giấy, ấn. Đồ vật nhỏ trên bàn viết trở thành nơi thể hiện gu thẩm mỹ, và những con thú nằm gọn, đế phẳng như tịch tà rất hợp vai trò đó.
Nghề chạm ngọc và đúc đồng tinh xảo hơn. Công cụ mài ngọc, kỹ thuật đúc khuôn sáp ngày càng tốt cho phép làm thú nhỏ mà vẫn đủ chi tiết. Không có kỹ thuật thì không có con thú lòng bàn tay đủ đẹp để người ta muốn cầm, muốn giữ.
Một lực đẩy thứ tư rất muộn: thị trường đại chúng. Ở thời hiện đại, đúc hàng loạt và buôn bán rộng khắp đưa tỳ hưu từ thư phòng ra cổ tay của rất nhiều người. Đây là lúc hình tượng gắn chặt với lời kể về tài lộc, điều mà các thời trước không ghi nhận như ngày nay. Lời kể đó là quan niệm, không có bằng chứng.
Chi tiết nào được thêm vào ở thời gần đây
Nhiều chi tiết bạn coi là "đương nhiên" trên tỳ hưu đeo tay thật ra là lớp mới. Con tỳ hưu ngậm đồng tiền, cưỡi thỏi vàng, ôm hạt châu, cái mông to tròn "để giữ của" là những biểu tượng gắn thêm, phần lớn xuất hiện cùng với cách hiểu tỳ hưu như linh vật tài lộc trong dân gian hiện đại. Nguồn gốc của từng biểu tượng đi kèm này có bài riêng trong danh mục.
Dáng đầu to, thân mập, mắt lồi tròn cũng là thẩm mỹ của thời gần đây, gần với kiểu "dễ thương" hơn là dữ dằn. Nó hợp với đồ đeo vì ít cạnh sắc, ít chỗ móc áo, và hợp với khuôn đúc hàng loạt. So với một con thú ngọc thời Thanh, tỳ hưu đúc hiện đại có tỷ lệ đầu – thân lệch hẳn về phía đầu.
Một thay đổi ít ai để ý là hướng nhìn. Tượng đá thời Hán, Nam triều được làm để xem từ bên cạnh, khi người đi dọc thần đạo; đường cong thân là thứ quan trọng nhất. Tỳ hưu đeo tay được làm để xem từ trên xuống, khi chủ nhân liếc cổ tay; vì vậy đầu, mắt và lưng được chú trọng, còn bụng và chân gần như chỉ là khối đỡ.
Biết điều này không có nghĩa phải chê mẫu hiện đại. Mỗi thời có thẩm mỹ của mình; con tỳ hưu tròn mập là thẩm mỹ của thời nay và nhiều người thấy nó thân thiện. Chỉ cần không gán cho nó cái mác "đúng chuẩn cổ" khi nó không phải.
Dùng hiểu biết lịch sử khi chọn đồ đeo
Khi xem một mẫu tỳ hưu, bạn có thể tự hỏi: mẫu này gần với thời nào? Thân dài, ngực ưỡn, đầu ngẩng là hơi hướng Hán – Nam triều. Nằm phục, đầu ngoảnh, thân tròn vừa phải là hơi hướng Minh – Thanh. Đầu rất to, thân rất mập, ngậm tiền là thẩm mỹ hiện đại.
Câu hỏi này không có đáp án đúng sai, nhưng giúp bạn chọn món hợp với gu của mình và nói chuyện với người bán rõ ràng hơn. Người thích vẻ cổ kính có thể đặt làm hoặc tìm mẫu theo dáng Minh – Thanh; người cần món nhỏ gọn đeo hằng ngày thì dáng hiện đại tròn trịa lại thực dụng hơn. Phần đọc dáng và tay nghề chi tiết có danh mục riêng trên trang này.
Ví dụ giả định: anh Tuấn thích một mặt dây tỳ hưu đầu ngoảnh lại, người bán gọi là "tỳ hưu Thanh cổ". Anh không cần biết món đó có phải đồ cổ hay không, chỉ cần hiểu đó là một mẫu làm theo dáng hồi thủ thời Thanh, và trả tiền theo chất liệu, tay nghề của món đồ mới.
Câu hỏi thường gặp
Tỳ hưu đeo tay xuất hiện từ thời nào?
Đồ đeo chạm thú nhỏ có từ lâu, nhưng tỳ hưu thành đề tài đồ đeo phổ biến rộng rãi như hiện nay là chuyện của thời hiện đại. Ở Việt Nam, mốt đeo tỳ hưu phổ biến chủ yếu trong khoảng vài chục năm gần đây.
Dáng hồi thủ của tỳ hưu là gì?
Hồi thủ là dáng con thú nằm phục, đầu ngoảnh lại phía sau hoặc sang bên. Dáng này phổ biến trên tượng thú ngọc thời Minh và Thanh, và vẫn được dùng trên một số mẫu tỳ hưu mặt dây, chặn giấy ngày nay.
Tỳ hưu ngọc thời Thanh có phải đồ đeo không?
Phần lớn tượng thú ngọc thời Thanh là vật cầm tay, đặt bàn hoặc làm chặn giấy, núm ấn. Đồ đeo chạm thú nhỏ có tồn tại nhưng không phải dạng phổ biến nhất. Món tỳ hưu ngọc đeo tay bạn gặp hôm nay đa số là đồ làm mới.
Người bán nói tỳ hưu đời Tống thì tin được không?
Nên thận trọng. Định niên đại tượng ngọc thú nhỏ là việc khó, ngay giới chuyên môn cũng có tranh luận, và hàng phỏng cổ rất nhiều. Nếu không có giấy giám định từ nơi đáng tin, hãy coi món đồ là đồ mới làm theo dáng cổ.
Vì sao tỳ hưu hiện đại đầu to thân mập?
Đó là thẩm mỹ của thời nay: ít cạnh sắc, dễ đeo, hợp đúc hàng loạt và nhìn thân thiện. Nhiều người còn gán ý mông to để giữ của, nhưng đó là quan niệm, không có bằng chứng, chỉ nên coi như văn hoá dân gian.
Có nên chọn tỳ hưu theo dáng của một thời cụ thể không?
Đó là lựa chọn thẩm mỹ. Dáng Hán – Nam triều mạnh mẽ nhưng dễ vướng, dáng Minh – Thanh cân đối, dáng hiện đại tròn gọn dễ đeo hằng ngày. Bạn chọn theo gu và thói quen sinh hoạt của mình là đủ.