Vòng kiềng cứng và lắc xích gắn tỳ hưu không co giãn như vòng hạt dây chun, nên cách chọn cỡ khác hẳn: kiềng kín phải lọt qua phần rộng nhất của bàn tay khi khép lại, còn lắc xích tính theo chu vi cổ tay cộng độ rơ và cần một chiếc khoá chắc. Kiềng hở và kiềng có bản lề nằm ở giữa: đo theo cổ tay nhưng phải tính hình bầu dục của cổ tay người.
Bài này đi qua từng kiểu, cách đo, cách gắn con tỳ hưu lên vòng và những chỗ cần kiểm trước khi mua. Bài không bàn chất liệu cụ thể; các con số là khoảng tham khảo hoặc ví dụ giả định.
Ba kiểu vòng không co giãn và cách đo của từng kiểu
Trước hết cần phân biệt rõ ba kiểu, vì người bán đôi khi gọi lẫn tên.
| Kiểu | Hình dáng | Đo theo | Ưu điểm | Điểm yếu |
|---|---|---|---|---|
| Kiềng kín | Vòng tròn liền, không mở | Vòng bàn tay khi khép ngón cái | Chắc, không có khoá để hỏng | Khó đeo vào, tháo ra; to hơn cổ tay nhiều nên trượt lên xuống |
| Kiềng hở | Vòng có khe hở, ép nhẹ để đeo | Chu vi cổ tay, tính cả bề ngang cổ tay | Vừa khít cổ tay, đeo vào nghiêng qua chỗ hẹp | Ép ra ép vào nhiều lần thì kim loại mỏi |
| Kiềng bản lề | Vòng mở ra như càng cua, có chốt | Chu vi cổ tay, dáng bầu dục | Vừa khít, đeo tháo dễ | Bản lề và chốt là chỗ yếu |
| Lắc xích | Chuỗi mắt xích mềm, có khoá | Chu vi cổ tay cộng độ rơ | Mềm, ôm cổ tay, chỉnh độ dài được | Khoá có thể tuột; mắt xích có thể đứt |
Con tỳ hưu trên các kiểu này thường được hàn cố định vào thân vòng, hoặc luồn vào xích như một hạt chặn có thể trượt. Cách gắn ảnh hưởng tới độ bền và tới chỗ con thú nằm khi đeo, phần sau bài sẽ nói kỹ hơn.
Đo cỡ vòng kiềng kín: qua khớp bàn tay
Kiềng kín là kiểu duy nhất phải đo bàn tay chứ không đo cổ tay. Cách đo tại nhà:
- Khép ngón cái sát vào lòng bàn tay, hướng về phía ngón út, như khi bạn chuẩn bị luồn tay qua một chiếc vòng.
- Dùng thước dây mềm hoặc dải giấy quấn quanh phần rộng nhất của bàn tay lúc này, thường là ngang khớp ngón cái và khớp ngón út.
- Quấn vừa sát, không siết. Ghi lại số đo, đó là chu vi tối thiểu chiếc kiềng phải có để qua được bàn tay.
- Đo thêm chu vi cổ tay để biết kiềng sẽ rộng bao nhiêu khi đã đeo vào.
- Đổi chu vi bàn tay ra đường kính trong của kiềng bằng cách chia cho 3,14. Ví dụ giả định: bàn tay khép đo được 19 cm thì kiềng cần đường kính trong khoảng 6 cm trở lên.
- Ra tiệm thử với vòng mẫu cùng đường kính. Có thể dùng một túi ni lông mỏng trùm bàn tay hoặc một chút xà phòng để kiềng trượt qua dễ hơn, không cần bóp mạnh.
Vì phải qua được bàn tay, kiềng kín luôn rộng hơn cổ tay khá nhiều. Người có bàn tay to, cổ tay nhỏ sẽ thấy kiềng kín trượt lên xuống cẳng tay; con tỳ hưu gắn trên kiềng vì vậy xoay tự do. Nếu bạn không thích cảm giác này, kiềng hở hoặc kiềng bản lề hợp hơn.
Kiềng hở và kiềng bản lề: tính theo dáng bầu dục của cổ tay
Cổ tay người không tròn mà dẹt, giống hình bầu dục: bề ngang từ mấu xương bên ngón cái sang bên ngón út lớn hơn bề dày từ mu tay xuống lòng cổ tay. Kiềng hở và kiềng bản lề ôm sát cổ tay nên dáng của chúng thường cũng được làm hơi bầu dục. Một chiếc kiềng tròn tuyệt đối, đường kính bằng bề ngang cổ tay, sẽ để hở khoảng trống phía trên và dưới, nhìn lỏng và dễ xoay.
Khi đo cho kiềng hở hoặc bản lề, bạn đo chu vi cổ tay như với vòng hạt, ngay trên mấu xương, rồi đo thêm bề ngang cổ tay bằng thước kẻ hoặc thước kẹp. Gửi người bán cả hai số. Người bán có kinh nghiệm sẽ đối chiếu với kích thước trong của kiềng theo hai chiều.
Với kiềng hở, khe hở phải đủ để nghiêng vòng qua chỗ hẹp nhất của cổ tay, tức bề dày từ mu tay xuống lòng cổ tay. Khe quá hẹp buộc bạn ép vòng mở ra mỗi lần đeo; ép nhiều lần làm kim loại mỏi, lâu ngày có thể nứt ở đoạn đối diện khe. Khe quá rộng thì kiềng dễ tuột. Ở quầy, bạn thử đeo vào, tháo ra vài lần mà không cần dùng lực ép.
Với kiềng bản lề, kiểm ba thứ: bản lề có rơ lắc không, chốt có cài chắc và có khoá phụ an toàn không, và khi đóng lại hai nửa vòng có khít mép không. Con tỳ hưu thường được đặt ở nửa đối diện bản lề hoặc ngay trên chốt, nên khi bạn mở, đóng, con thú là chỗ tay bạn hay cầm vào; chi tiết sừng, tai cần đủ chắc.
Lắc xích gắn tỳ hưu: độ dài, độ rơ và khoá
Độ dài lắc: thường lấy chu vi cổ tay cộng khoảng 1,5–2 cm cho lắc xích mảnh. Lắc bản to, mắt dày ăn vào trong nhiều hơn nên cần cộng thêm. Con tỳ hưu luồn trên lắc cũng chiếm một đoạn; nếu con thú dày, phần bụng của nó làm vòng trong nhỏ lại, bạn nên tính dư thêm.
Con tỳ hưu cố định hay trượt: con thú hàn cố định vào một mắt xích thì luôn nằm đúng chỗ, nhưng đoạn hàn là chỗ dễ gãy nếu bị giật. Con thú luồn trên xích như hạt chặn thì trượt tự do, khi đeo hay trôi về phía khoá hoặc phía dưới cổ tay. Một số mẫu có hai hạt chặn nhỏ kẹp hai bên để giữ con thú ở giữa.
Khoá: khoá tôm phổ biến, chắc khi lò xo tốt; khoá hộp (cài lẫy vào hộp) chắc và kín, hợp với lắc nặng; khoá chữ T luồn qua vòng tròn đẹp nhưng dễ tuột nếu lắc lỏng. Với lắc có tỳ hưu, khoá chịu thêm sức kéo của khối nặng, nên chọn khoá tương xứng với trọng lượng cả món.
Dây an toàn: một số lắc có thêm sợi xích phụ nhỏ nối hai đầu, để khi khoá bật ra lắc vẫn không rơi. Đây là chi tiết đáng có với lắc giá trị cao.
Đoạn nối điều chỉnh: vài vòng mắt xích dư ở gần khoá cho phép bạn chỉnh độ dài một hai centimét. Tiện khi mua làm quà hoặc khi cổ tay thay đổi theo mùa.
Vòng cứng va đập nhiều hơn bạn nghĩ
Vòng kiềng và lắc xích bằng kim loại không có lớp đệm như vòng hạt. Mỗi lần cổ tay chạm mép bàn, thành bồn rửa, cửa xe, phần va đầu tiên thường là con tỳ hưu vì nó nhô cao nhất. Với kiềng kín rộng, vòng trượt xuống mu bàn tay khi bạn cúi, va chạm còn nhiều hơn.
Hệ quả thường gặp là sừng, tai, móng con tỳ hưu bị mòn, bẹt hoặc cong sau một thời gian; thân kiềng bị móp ở chỗ va nhiều; lắc bị giãn mắt gần chỗ gắn con thú. Kim loại mềm thì những dấu vết này xuất hiện sớm hơn.
Bạn giảm được phần lớn hư hại bằng vài thói quen: tháo vòng khi rửa bát, khi lau dọn, khi xách đồ nặng, khi chơi thể thao; xoay con tỳ hưu lên phía mu tay khi làm việc bàn giấy; cất vòng riêng trong ngăn có lót vải để không cọ vào món khác. Với kiềng kín, cân nhắc chọn đường kính sát hơn một chút trong giới hạn vẫn qua được bàn tay, để vòng ít trượt.
Nếu bạn làm công việc dùng tay nhiều, như thợ cơ khí, đầu bếp, nhân viên kho, vòng cứng gắn tỳ hưu không phải món để đeo trong giờ làm. Không chỉ vì vòng hỏng, mà còn vì vòng có thể vướng vào máy móc hoặc vật nặng và gây chấn thương cổ tay.
Chỉnh cỡ sau khi mua: món nào chỉnh được, món nào không
Vòng hạt dây chun thì thêm bớt hạt là xong; vòng cứng và lắc xích không đơn giản như vậy. Với lắc xích, việc chỉnh thường dễ nhất: thợ tháo bớt vài mắt ở gần khoá hoặc nối thêm một đoạn xích cùng kiểu. Nếu con tỳ hưu được hàn cố định vào một mắt, thợ sẽ cắt bớt ở phía đối diện để con thú vẫn nằm giữa khi đeo.
Với kiềng hở, thợ có thể nắn khe hở hẹp lại hoặc rộng ra một chút, nhưng biên độ có hạn, và nắn nhiều lần ở cùng một chỗ sẽ làm kim loại mỏi. Với kiềng bản lề, chỉnh cỡ gần như phải làm lại một nửa vòng, nên coi như không chỉnh được.
Kiềng kín là khó nhất. Nới một chiếc kiềng tròn liền nghĩa là kéo giãn kim loại; với kiềng trơn có thể làm trong phạm vi nhỏ, nhưng kiềng có hoa văn chạy quanh thân hoặc có con tỳ hưu gắn liền thì hoa văn sẽ biến dạng. Thu nhỏ kiềng kín thường phải cắt bớt một đoạn rồi hàn lại, để lại mối hàn.
Vì vậy với kiềng kín và kiềng bản lề, số đo phải đúng từ lần đầu. Với lắc xích, bạn có thể dễ dãi hơn một chút và chỉnh sau. Trước khi mua, hỏi tiệm có nhận chỉnh không, có tính công không, và ghi lại trên phiếu.
Danh sách kiểm trước khi mua vòng kiềng, lắc gắn tỳ hưu
Mỗi mục dưới đây chỉ mất vài giây ở quầy:
- Kiềng kín: đeo vào, tháo ra được mà không phải bóp bàn tay đau; ghi lại đường kính trong.
- Kiềng hở: đeo, tháo vài lần không cần ép vòng mở ra; khe hở không quá rộng để tuột.
- Kiềng bản lề: lắc nhẹ xem bản lề có rơ không; chốt cài nghe tiếng dứt khoát; có khoá phụ an toàn.
- Lắc: bấm khoá năm, sáu lần xem lò xo bật lại tốt; kéo nhẹ hai đầu xem mắt xích gần con thú có giãn không.
- Con tỳ hưu: xem chỗ hàn hoặc chỗ luồn có chắc, sừng tai có đủ dày không.
- Đeo vào rồi buông tay: con thú trôi về đâu, có nằm ở chỗ va mặt bàn không.
- Hỏi chuyện chỉnh cỡ: kiềng có nới, thu được không; lắc có thêm, bớt mắt được không.
Ghi trọng lượng, chất liệu và kích thước lên phiếu. Với kiềng kín không chỉnh được cỡ, kích thước ghi trên phiếu là căn cứ quan trọng nếu cần đổi.
Câu hỏi thường gặp
Đo cỡ vòng kiềng kín tỳ hưu thế nào cho đúng?
Khép ngón cái vào lòng bàn tay, quấn thước quanh phần rộng nhất của bàn tay lúc đó, rồi chia cho 3,14 để ra đường kính trong tối thiểu. Kiềng kín phải qua được bàn tay nên luôn rộng hơn cổ tay; bạn nên thử thực tế tại tiệm.
Kiềng hở có tự bóp cho vừa tay được không?
Có thể bóp nhẹ một lần để chỉnh, nhưng không nên ép ra ép vào nhiều lần vì kim loại mỏi và có thể nứt ở đoạn đối diện khe. Với kim loại cứng hoặc kiềng có hoạ tiết, nên nhờ thợ chỉnh bằng dụng cụ phù hợp.
Lắc tay gắn tỳ hưu nên dài hơn cổ tay bao nhiêu?
Với lắc mảnh, thường cộng khoảng 1,5–2 cm vào chu vi cổ tay. Lắc bản to hoặc con tỳ hưu dày thì cộng thêm vì phần ăn vào trong nhiều. Chọn lắc có vài mắt nối điều chỉnh gần khoá để dễ chỉnh sau.
Con tỳ hưu trên lắc cứ trượt về phía khoá thì làm sao?
Đó là đặc điểm của kiểu con thú luồn tự do trên xích. Thợ có thể gắn hai hạt chặn nhỏ kẹp hai bên con thú để giữ nó ở giữa, hoặc cố định con thú vào một mắt xích. Đeo lắc sát hơn cũng giảm trượt.
Vòng kiềng tỳ hưu đeo hằng ngày có bị móp không?
Có thể, nhất là với kim loại mềm và kiềng kín rộng hay trượt. Con tỳ hưu nhô cao thường va trước tiên nên sừng, tai mòn sớm. Tháo vòng khi làm việc nhà, xách đồ nặng và cất riêng sẽ giữ vòng lâu hơn nhiều.
Kiềng bản lề và kiềng hở, kiểu nào hợp người bàn tay to cổ tay nhỏ?
Cả hai đều hợp hơn kiềng kín, vì không cần lọt qua bàn tay. Kiềng bản lề đeo tháo dễ, ôm khít nhưng phải kiểm bản lề và chốt. Kiềng hở đơn giản, ít chi tiết hỏng hơn nhưng không nên ép mở nhiều lần.